Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

Bộ phim cuộc đời bạn

Bạn nhìn thấy ai trong gương hàng ngày?
Bạn nhìn thấy một con người bình thường, với những khó khăn chồng chất cần giải quyết, với một cuộc đời chỉ mong giành giật để tồn tại?


Bạn nhìn thấy mình chỉ như một giọt nước trong cả một biển người? Như một cây nhỏ nhoi trong rừng cây, và bạn cần phải tranh chấp để giành được chỗ đứng của mình dưới mặt trời?

Hay là bạn nhìn thấy mình như một cái đinh ốc trong cả bộ máy lớn của xã hội đang quay cuồng, cũng có ai đó cần đến bạn, nhưng hoàn toàn với mục đích lợi dụng, họ chỉ chơi với bạn khi bạn còn có lợi cho họ mà thôi?

Hay bạn thậm chí còn không muốn nhìn vào gương nữa? Vì nghĩ rằng không ai quan tâm đến bạn, cho nên bạn cũng còn không quan tâm lắm đến chính mình.

Có những con người cho rằng họ chính là công việc họ làm. Họ làm giám đốc, nên họ là ông giám đốc, và cư xử như một ông giám đốc theo kiểu mẫu thế gian. Họ là người đi chợ, nên họ cũng sống theo kiểu chợ búa. Họ là một công nhân trong nhà máy, cho nên họ cũng chỉ sống như là một cái ốc trong bộ máy.

Trong mọi cách nhìn bản thân sai lầm đó con người đánh mất dần tính cách cá nhân của mình.

Khi chúng ta nghĩ mình chỉ có những số phận tầm thường, thì ta cũng từ chối không mơ ước nữa. Và lửa trong ta tắt, những ước mơ ta chết đi, ngay cả khi tim ta vẫn còn đập trong lồng ngực.

Nhưng Tin lành mà ngày hôm nay bạn nghe thấy lại đem cho bạn một cái gì hoàn toàn khác. Đó là sự thật về bạn. Bạn là tạo vật của Đức Chúa Trời, là tác phẩm của bàn tay Ngài tạo ra.

Đức Chúa Trời là tác giả thiên tài, cho nên bất cứ tác phẩm nào của Ngài cũng là một tuyệt tác không bao giờ lặp lại. Có nghĩa là bạn cũng vô cùng đặc biệt. Từ trước cho đến giờ không có ai giống bạn, và sau này cũng không có nữa.

Mọi tạo vật của Chúa đều tốt lành cả, và bạn cũng đã được tạo nên với một mục đích tốt lành.
"Chúa biết khi tôi ngồi, lúc tôi đứng dậy; từ xa Chúa hiểu biết ý tưởng tôi.
Chúa xét nét nẻo đàng và sự nằm ngủ tôi, quen biết các đường lối tôi.
Vì lời chưa ở trên lưỡi tôi, kìa hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã biết trọn hết rồi."
(Thi thiên 139:2-4)

Mắt của Chúa luôn dõi theo bạn, Ngài chưa bao giờ thờ ơ với số phận của bạn. Mặc dù bạn có sống ở giữa biển người, Ngài vẫn nhận ra bạn, quen thuộc từng lời ăn tiếng nói, từng đường đi nước bước của bạn nữa. Cũng như các nhân vật chính trong các bộ phim, họ không thể lẫn đi đâu được dù đi dạo trong đám đông, họ bao giờ cũng được đạo diễn quay cận cảnh. Bạn luôn luôn là nhân vật chính của Đức Chúa Trời trong bộ phim đời bạn. Không thể có ai đóng thay được bạn vai chính đó. Nếu bạn từ chối, bộ phim sẽ không thành được.

Có thể bạn nghĩ số phận đó không phải dành cho người thường như bạn. Bạn nghĩ Đức Chúa Trời có lẽ chỉ quan tâm sử dụng những người đặc biệt có tài, có điều kiện sống phù hợp, có vẻ ngoài dễ coi... mà thôi. Nhưng đã có bao giờ bạn nghĩ đến chuyện này chưa, là các minh tinh màn bạc không phải khi sinh ra đã là ngôi sao được mọi người công nhận. Các con người - ngôi sao điện ảnh xuất hiện được là bởi vì có những bộ phim - ngôi sao, là những bộ phim có một kịch bản hay, và có một đạo diễn phim tuyệt vời. Phần của họ (các diễn viên) chỉ là đóng vai hết lòng, hết sức mình có thể.

Và bây giờ tôi muốn báo cho bạn biết là Đức Chúa Trời cũng có một kế hoạch - kịch bản dành cho bộ phim kể về đời bạn, đó là những ý tưởng tuyệt vời về chuyện bạn có thể làm được bao nhiêu điều cùng với Ngài trong cuộc sống trên đất, có thể động chạm được đến biết bao nhiêu con người xung quanh bạn bằng những công việc tốt lành, để chính họ sẽ trầm trồ ngợi khen Chúa và cảm tạ Ngài vì cớ bạn.

"Vì chính Chúa nắn lên tấm thân tôi, dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi;
Tôi cảm tạ Chúa, vì tôi được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng; Công việc Chúa thật lạ lùng, lòng tôi biết rõ lắm.
Khi tôi được dựng nên trong nơi kín, chịu nắn lên cách tinh xảo tại nơi thấp của đất, thì các xương cốt tôi không giấu được Chúa.
Mắt Chúa đã thấy thể chất vô hình của tôi; số các ngày định cho tôi, đã biên vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày nào trong các ngày ấy.
Hỡi Đức Chúa Trời, các tư tưởng Chúa quí báu cho tôi thay! Số các tư tưởng ấy thật lớn thay!
Nếu tôi muốn đếm các tư tưởng ấy, thì nhiều hơn cát, khi tôi tỉnh thức tôi còn ở cung Chúa."
(Thi thiên 139:13-18)

Bạn sinh ra là đúng thời điểm, và Đức Chúa Trời biết là thế gian xung quanh đang cần đến bạn vào đúng lúc này, đang cần đến chính khả năng thiên bẩm mà bạn đang có. Khi bạn bắt đầu tìm cách giúp đỡ mọi người, đem đến cho họ những gì họ mong mỏi tìm kiếm, đưa họ về với Đức Chúa Trời, bạn sẽ khám phá ra chúng vẫn tiềm ẩn trong bạn từ xưa.

Miễn là bạn hết lòng hoà mình vào với kế hoạch đó của Ngài, sống theo ý đồ huy hoàng của Ngài đã định sẵn trong lòng Ngài cho bạn.
Với Ngài, không thể có được một bộ phim dở hay là nhàm chán.

Tất nhiên chúng ta cũng biết là trong quãng đời của ta chưa có Chúa Jê-sus, ma quỉ cũng đã kịp phá hoại nhiều thứ: phá sức khoẻ bạn bằng các loại bệnh tật mà bạn đang có, xúi dục làm điều ác gây tổn thương tấm lòng bạn khiến nó trở nên chai cứng trước mọi sự, tấn công vào suy nghĩ của bạn khiến nó chỉ nhìn thấy điểm xấu và thất bại v.vv. Nhưng Đức Chúa Trời của chúng ta là Chúa của sự sống lại, Ngài đã đến để cứu bạn, phục hồi thân thể, tâm hồn và trí óc của bạn.

"Nếu Đức Thánh Linh của Đấng làm cho Đức Chúa Jê-sus sống lại từ kẻ chết ở trong anh chị em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Jê-sus Christ sống lại từ kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh chị em mà khiến thân thể hay chết của anh chị em lại sống!" (Rô-ma 8:11)
Bạn cũng biết là không có bộ phim nào mà không có những tình huống gay cấn, khi khó khăn thử thách đến với nhân vật chính, nhưng qua đó ta càng thấy tính cách ưu tú của anh ta khi vượt qua mọi thử thách đó. Khi khó khăn thực sự đến, hoạn nạn, khốn cùng, đói khát, bệnh tật, bắt bớ, đe doạ, vũ lực,  dù cho nó có là gì đi chăng nữa, Đức Chúa Trời luôn ở cùng bạn để giúp bạn chiến thắng chúng. (Rô-ma 8:37-39)

Với Ngài, không thể có một bộ phim thất bại, mà là bộ phim với thắng lợi cuối cùng.

Đó là bộ phim kể về bạn, mà kịch bản của nó đã nằm trong lòng Đức Chúa Trời từ khi Ngài nắn lên bạn trong lòng mẹ.

Tôi không thể nói cho bạn được cụ thể nó là như thế nào, đó là việc riêng của bạn với Đức Chúa Trời. Khi bạn càng trò chuyện tâm sự nhiều với Chúa, và bước đi theo Ngài, Ngài sẽ càng tỏ rõ hơn cho bạn. Đơn giản là vì nếu bây giờ Ngài có tỏ cho bạn hết ngay một lúc thì chưa chắc bạn đã hiểu hết và nắm bắt được. Như Áp-ra-ham trước kia chỉ có một lời kêu gọi ban đầu chưa cụ thể từng chi tiết, nhưng khi ông bước đi theo tiếng gọi đó, thì cả kế hoạch vĩ đại của Đức Chúa Trời mới được sáng tỏ dần dần ra cho ông.

Hãy để phần đạo diễn cho Đức Chúa Trời, còn việc của chúng ta là hết sức làm đúng những gì Ngài đặt ra cho ta hôm nay - làm trọn vai trò của một nhân vật chính. Trong sách của Đức Chúa Trời đã có chép về bạn, hãy nghiên cứu nó và bạn sẽ tìm thấy mình trong đó.


MS Quoc Hung

Bí mật của sách tiên tri Đa-ni-ên

Bí mật của sách tiên tri Đa-ni-ên

Sách Đa-ni-ên này là một bằng chứng tuyệt vời, chứng tỏ Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời hằng sống, Đấng biết tất cả mọi việc sẽ xảy ra trong tương lai. Chỉ mình Đức Chúa Trời hằng sống mới có thể biết trước mọi sự. Ngoài Đức Chúa Trời hằng sống ra, ai có thể nói trước được thời gian từ vua Nê-bu-cát-nết-sa cho tới ngày nay, tức là lịch sử trong khoảng 2600 năm. Một số giai đoạn của lịch sử thậm chí được Đức Chúa Trời mô tả chi tiết, đã đưa đến nhiều tranh luận về sách Đa-ni-ên.
Thậm chí, một số người cho rằng, tất cả được viết sau khi đã xảy ra. Tuy nhiên, những điều tiên tri trong sách đã ứng nghiệm và sắp ứng nghiệm không phải là bí mật chính của sách Đa-ni-ên mà là sự trung tín của Đa-ni-ên. Bởi hết lòng trung tín với Đức Chúa Trời mà Ngài đã bày tỏ cho ông rất nhiều.
Bối cảnh của sách Đa-ni-ên là dân Israel bị lưu đày sang Ba-by-lôn. Trong những tù nhân ấy, vua Ba-by-lôn là Nê-bu-cát-nết-sa cho chọn những người trẻ tuổi  khôi ngô, khỏe mạnh, khôn ngoan để hầu hạ vua trong cung điện và cho học hỏi sự khôn ngoan và ngôn ngữ của Ba-by-lôn, đế chế lớn nhất trong lịch sử. Họ được cho ăn thức ăn của vua và uống rượu của vua uống. Đối với nhiều người thì đây là cơ hội rất tốt: không những không bị bán làm nô lệ mà còn được cho học hỏi nền văn minh của Ba-by-lôn, được thưởng thức sơn hào hải vị của vua và hầu hạ vua trong cung điện.

1)  Đa-ni-ên và ba người bạn quyết định giữ mình trong sạch cho Chúa (Đa-ni-ên chương 1)
Nhưng Đa-ni-ên và ba người bạn là Ha-na-nia, Mi-sa-ên và A-xa-ria quyết định trong lòng là không để mình ô uế bởi thức ăn và đồ uống của vua nên xin được cho ăn rau và uống nước (Đa-ni-ên 1:10-12). Dù biết rõ quyế t định có thể dẫn đến cái chết, nhưng những cậu bé này, khoảng từ 15 tuổi trở xuống, quyết định trung thành với Đức Chúa Trời và giữ mình trong sạch cho Chúa. Cũng có nhiều người Do Thái được đưa vào cung vua, nhưng chỉ có 4 cậu bé này quyết lòng trung tín với Chúa. Bởi quyết định này mà Đa-ni-ên và ba người bạn đã làm Đức Chúa Trời rất đẹp lòng nên đã ban cho họ tri thức và khả năng thấu hiểu mọi thứ học thức và khôn ngoan.
Hiện nay, chúng ta đang ở trong thời Tân Ước, không phải giữ gìn các luật lệ bề ngoài nữa, được ăn mọi thức ăn. Nhưng chúng ta có ý thức giữ mình trong sạch cho Đức Chúa Trời và không để bị ô uế bởi những sự vui thú của thế gian này không? Giữa chúng ta và dân ngoại có sự khác biệt nào không? Tiếc là ngoài việc đi lễ ngày Chúa Nhật, thì dân Chúa cũng như dân ngoại: thờ thần tượng, quan hệ ngoài hôn nhân, tham vật chất, chia rẽ, chạy theo danh vọng, yêu những điều của thế gian... và lòng thì xa cách Chúa. Chúng ta nên nhớ rằng tuy chúng ta sống trong thế gian nhưng chúng ta không thuộc về thế gian mà thuộc về Đức Chúa Trời (Giăng 17:14). Chúa đã cảnh báo về điều này trong các câu Kinh Thánh sau:
Đừng yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì tình yêu của Cha chẳng ở trong người ấy“ (1.Giăng 2:15)
Hỡi bọn ngoại tình kia, anh em há chẳng biết làm bạn với thế gian tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời sao? Cho nên, ai muốn làm bạn với thế gian, thì người ấy trở nên kẻ thù của Đức Chúa Trời vậy“ (Gia-cơ 4:4)
Chúng ta hãy học ở bốn cậu bé kia, giành trọn cả trái tim cho Chúa, quyết lòng giữ mình trong sạch cho Chúa chúng ta dầu phải trả bất kỳ giá nào. Nhưng chắc chắn Chúa sẽ ở bên cạnh để giúp chúng ta trung tín với Ngài.
2) Sự trung tín của Ha-na-nia, Mi-sa-ên và A-xa-ria (chương 3)
Trong sách Đa-ni-ên chương 3, vua Nê-bu-cát-nết-sa cho làm một bức tượng vàng lớn và bắt mọi người quỳ gối thờ lạy bức tượng này. Ai không sấp mình trước bức tượng thì bị quăng vào lò lửa hực. Lúc đó, Ha-na-nia, Mi-sa-ên và A-xa-ria đang làm quan ở tỉnh Ba-by-lôn, bị người ta phát hiện là không chịu quỳ trước bức tượng nên bị điệu đến trước vua. Vua nói nếu họ không chịu quỳ thì cũng sẽ bị quăng vào lò lửa, xem thần nào có thể cứu họ được không.
Câu trả lời của họ làm chúng ta phải khâm phục: „Hỡi Nê-bu-cát-nết-sa, chúng tôi không cần gì phải biện minh với vua về vấn đề này. Nầy, hỡi vua! Nếu Đức Chúa Trời mà chúng tôi hầu việc, có thể cứu chúng tôi thoát khỏi lò lửa hực và thoát khỏi tay vua thì Ngài sẽ cứu . Nếu Ngài không cứu, hỡi vua, xin biết rằng chúng tôi không hầu việc các thần của vua, và không thờ phượng pho tượng vàng mà vua đã dựng“ (Đa-ni-ên 3:16-18). Câu này có nghĩa là nếu Đức Chúa Trời  muốn cứu thì Ngài sẽ cứu họ, nhưng nếu Ngài không cứu thì họ vẫn trung tín với Chúa, không quỳ trước bức tượng cho dù họ sẽ bị chết. Chúng ta có thể thấy là họ hoàn toàn vâng lời và trung tín với Chúa một cách vô điều kiện. Còn chúng ta thì đòi hỏi Chúa làm cái gì trước rồi mới nghe theo. Không phải trong Khải Huyền 2:10, Chúa đã nói „Hãy trung tín cho đến chết, rồi Ta sẽ ban cho ngươi mão triều thiên của sự sống“ sao?
3) Đa-ni-ên bị ném vào chuồng sư tử (chương 6)
Ở đầu chương 6, vua lập một trăm hai mươi quan trấn thủ, để chia nhau trị cả nước, và trên các quan này là ba quan thượng thư, trong đó có Đa-ni-ên. Vì trội hơn hai người kia, nên vua định lập Đa-ni-ên trên cả nước. Các quan ganh tỵ tìm cách kiện Đa-ni-ên nhưng không tìm thấy bất kỳ lỗi gì ở ông cả vì ông trung thành với vua, siêng năng và tận tâm với công việc. Nên họ mới bày mưu kế để hãm hại ông. Họ nói vua làm một chiếu chỉ là nếu trong ba mươi ngày nếu người nào cầu xin thần của mình thì bị ném vào chuồng sư tử (Đa-ni-ên 6:7)
Nếu nghe chiếu chỉ như vậy thì phản ứng của chúng ta sẽ ra sao? Ở câu 10, sau khi nghe chiếu chỉ xong, Đa-ni-ên về nhà vẫn như thường lệ một ngày ba lần quỳ gối, cầu nguyện tạ ơn Đức Chúa Trời và các cửa sổ thì mở hướng về Giê-ru-sa-lem. Thậm chí Đa-ni-ên cũng không cần phải đóng cửa sổ. Tuy trọng trách cao, tận tụy với công việc, nhưng ngày nào Đa-ni-ên cũng biệt riêng thời gian cho Chúa và cầu nguyện cho chương trình của Chúa, xin Chúa thương xót xây dựng lại Giê-ru-sa-lem, hình ảnh của Hội Thánh, và giải thoát dân Ngài khỏi cảnh tù đày. Sau khi chiếu chỉ thì lòng của Đa-ni-ên với Đức Chúa Trời và Giê-ru-sa-lem vẫn không đổi, các cánh cửa sổ vẫn mở hướng về Giê-ru-sa-lem.  Vì vậy các quan có chứng cớ để kiện cáo Đa-ni-ên trước mặt vua, và ông đã bị ném vào chuồng sư tử. Nhưng Đức Chúa Trời đã giải cứu ông.
4) Đa-ni-ên kiêng ăn, nài xin Chúa thương xót dân của Ngài (chương 9)
Qua sách Giê-rê-mi, Đa-ni-ên nhận biết được thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị hoang vu 70 năm (câu 2). Khi khoảng thời gian này sắp hết, Đa-ni-ên kiêng ăn, mặc áo gai, đội tro và hết lòng nài xin Chúa thương xót và tha thứ những tội lỗi và bất trung mà dân Chúa đã phạm, mở đường cho dân sự trở về xây dựng lại thành Giê-ru-sa-lem, để danh Đức Chúa Trời được vẻ vang tại đó.
Trong cả cuộc đời, từ lúc nhỏ tuổi đến lúc cao tuổi, Đa-ni-ên luôn trung thành với Đức Chúa Trời và hết lòng vì dân của Đức Chúa Trời. Qua đời sống của Đa-ni-ên và ba người bạn, Đức Chúa Trời đã được vinh hiển, danh Ngài được bày tỏ ra trong thế gian. Chính các vua lúc đó cũng nhận ra rằng Đức Chúa Trời của họ là Đức Chúa Trời của các thần, là Vua của các vua (Đa-ni-ên 2:47, 3:29, 4:34-37,...). Ngợi khen Chúa!
Các bạn trẻ, hãy như Đa-ni-ên và ba người  bạn, hãy làm một quyết định là trung thành với Chúa, giữ mình trong sạch cho Chúa, không để mình bị vẩn đục bởi thế gian này. Ai quyết lòng trung tín với Chúa thì Chúa sẽ ở bên cạnh để giúp người đó trung tín với Chúa. Không lẽ ở Việt Nam, Chúa không tìm được những người như họ sao?
Lạy Chúa, xin Chúa hãy vực dậy những người như Đa-ni-ên ở Việt Nam để danh Chúa được vinh hiển ở Việt Nam, để nước Chúa mau đến trên trái đất này và để ý muốn Ngài được nên. Amen


Bí mật của sự sống

Bí mật của sự sống

(Lời chứng của Khánh, người Việt)
Tôi lớn lên trong một gia đình không tôn giáo. Nhà tôi thờ ông bà theo truyền thống Việt Nam, và mẹ tôi thỉnh thoảng có đi chùa vào những dịp lễ tết như bao người khác. Riêng bản thân mình, tôi đã tin vào thuyết tiến hóa của Darwin mà tôi được học trong nhà trường và thích chủ nghĩa hư vô. Nghĩa là mọi thứ từ hư vô mà thành và rồi sẽ trở về lại với hư vô. Mặc dù đôi khi tôi thấy rằng, suy nghĩ đó làm cuộc sống này trở nên vô nghĩa thật, nhưng tôi cũng tìm gặp trong những tư tưởng triết học nổi tiếng, trong văn thơ, ca nhạc về thân phận cuộc sống và cả trong triết lý của Phật giáo những điều tương tự như mình nghĩ. Vì vậy, tôi đã cho rằng, đó là một suy nghĩ đúng đắn và „không bệnh“. Dựa trên đó, tôi đã tự đặt ra những mục tiêu cho cuộc đời mình trong công danh, sự nghiệp cũng như có những ước mơ, những hoài bão riêng cho bản thân, gia đình và xã hội.
Sau tốt nghiệp phổ thông trung học, tôi du học ở Đức khi vừa 19 tuổi. Sống một mình ở một đất nước mới lạ lẫm cả về văn hóa lẫn ngôn ngữ, tôi đã vấp phải không ít khó khăn. Nhưng sau 6 năm học ở đây, tôi vượt qua tất cả những khó khăn đó. Từ việc học, việc làm thêm cho đến bạn bè, ngôn ngữ, giao tiếp, mọi chuyện đều tốt đẹp. Cuối tuần tôi thường hay đi chơi với bạn và thấy cuộc sống mình khá vui vẻ, thoải mái.
Mùa thu 2008, khi tôi vừa ngưng việc thực tập thì một người bạn cũ đề nghị vào làm thêm ở công ty anh ta. Tôi đã nhận lời và công ty cũng nhận tôi vào làm. Ở đây tôi thường đi ăn trưa chung với mọi người. Trước khi ăn, tôi thường nghe những người này cầu nguyện Chúa Giêsu, và thấy hơi mắc cười. Họ cũng hay nhóm với nhau trong tuần và cầu nguyện, hát, cũng như nói với nhau về Đức Tin, những điều tôi không hiểu mấy. Lắm lúc tôi tự nói một mình: „Sao mà sùng đạo quá vậy!“. Tôi đã gặp nhiều bạn bè theo đạo Công Giáo, và họ đi nhà thờ vào cuối tuần, nhưng chưa thấy ai cầu nguyện như vậy cả. Mặc dù thấy hơi lạ, nhưng tôi tôn trọng những điều khác với bản thân mình. Và sự thật là những người bạn đó rất thân thiện và cởi mở. Lúc đó tôi đã nghĩ, họ sẽ là những người bạn hoàn hảo trừ việc họ hay nói về Chúa Giêsu và mời tôi đến những buổi nhóm của họ. Bởi vì về điều này, tôi không thích nghe và bàn luận gì cho lắm. Tôi đã nghĩ đơn giản rằng, cho dù có một Thượng Đế, và Thượng Đế đã một lần đến thế gian này dưới hình hài Chúa Giêsu đi nữa; thì đã sao, việc đó có liên quan gì đến tôi. Cuộc sống tôi đang suông sẻ, tốt đẹp, tôi chẳng cần biết Thượng Đế để làm gì cả.
Gần một năm trôi qua, khi chỉ còn hai tuần lễ nữa là tôi sẽ nghỉ làm ở công ty đó, người bạn tôi đã tỏ vẻ buồn vì tôi và nói với tôi rằng: „Rồi có thể tôi sẽ có một việc làm thật tốt và thành đạt trong cuộc sống, nhưng đến một ngày khi đứng trước sự thật tôi sẽ hối tiếc, nếu tôi bỏ qua cơ hội cứu được mình lúc này. Hãy tìm gặp Thượng Đế để được cứu ra khỏi tội lỗi và thừa hưởng sự sống đời đời. Thượng Đế là điều tốt đẹp và tuyệt vời nhất, hãy tìm gặp được Ngài để tận hưởng và chiêm ngưỡng. Hãy hành động ngay bây giờ, đừng đợi đến một dịp nào khác nữa. Có thể khi đó mọi chuyện đã trở nên quá muộn “. Thật lòng, tôi chẳng suy nghĩ gì mấy về lời nói đó, nhưng vì muốn giữ quan hệ tốt với bạn mình, tôi đã đưa ra một giao ước. Chỉ trong hai tuần cuối ở đó, tôi sẽ thử tìm Thượng Đế giả sử rằng Ngài tồn tại. Sau hai tuần, nếu tôi không thực sự „thấy“ Thượng Đế,  thì xin đề tài này chấm hết đối với tôi mà tình bạn vẫn tốt đẹp, đừng nghĩ gì vì tôi. Tôi không thể nào chỉ tin không không vào một điều gì đó được.
Và mỗi buổi sáng sau đó tôi dành ra khoảng 1 giờ đồng hồ để đến nhóm, cầu nguyện và ăn sáng chung với bạn bè ở đó. Một người bạn ở nhóm đã nói với tôi rằng: „Không thể tự mình có Đức Tin được, nó không giống như bạn cố gắng tin vào một điều gì đó. Đức Tin là một mối quan hệ sống với Thượng Đế, người đã tạo ra tất cả mọi thứ. Và con đường duy nhất, cho mối quan hệ sống đó, là: tin nhận và cầu nguyện Chúa Giêsu ban nó cho bạn“. Như trong Kinh Thánh, ở câu John 14:6, Chúa Giêsu đã nói: „Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha“. Tôi đã tạm cho là như vậy, và quyết định thực lòng cầu nguyện thử trong hai tuần lễ.
Sau tuần đầu tiên, tôi dần dần thấy trong mình lúc nào cũng vui vẻ cả. Một niềm vui rất nhẹ, lâng lâng, an lành, khó diễn tả bằng lời. Ban đầu tôi đã nghĩ rằng, có lẽ vì gặp nhiều người, nói chuyện thân thiện, dĩ nhiên là vậy thôi. Nhưng suy nghĩ đó không thuyết phục lắm vì niềm vui đó không bị mất đi, tâm trạng tôi vui và bình an liên tục hoài như vậy. Điều này là một điều lạ đầu tiên tôi được biết tới trong đời, vì thông thường, sau những cuộc vui chơi với bạn bè, tôi lại thấy mình trống rỗng.
Chỉ vài ngày sau đó, tôi đã thực sự thấy Thượng Đế; không phải bằng đôi mắt của mình, mà là qua linh hồn tôi nay đã sống lại nhờ tôi đã thực lòng kêu cầu Ngài vì điều đó. Trở về được với Thượng Đế là niềm hạnh phúc lớn lao nhất mà tôi chưa bao giờ được biết. Trong tôi được lấp đầy bởi Thánh Linh, và đó cũng là Thượng Đế hay Chúa Giêsu. Ngày nay, tôi kinh nghiệm Thượng Đế trong cuộc sống hàng ngày của mình. Tôi làm những việc hàng ngày với Thượng Đế, trong tôi. Tôi đến trường đai học với Ngài, tôi nghe giảng với Ngài, tôi viết bài với Ngài  Càng ngày tôi càng nói với Ngài, cũng như nghe từ Ngài nhiều hơn. Ngài cũng đã giúp tôi bỏ thuốc lá chỉ trong vòng vài phút, điều mà trước đó tôi đã cố bỏ nhưng không được, và từ đó đến nay tôi đã không hút thêm một điếu thuốc nào nữa.
Thật vậy, nghe cứ như là một câu chuyện cổ tích ở thế kỷ 21, nhưng điều này hoàn toàn là sự thật. Thượng Đế, Chúa Giêsu ở ngay trong chúng ta, đó là một bí mật lớn nhất trên thế gian này. Bí mật bởi vì, tôi có nói bạn cũng không thấy được. Khi linh hồn mình chưa sống lại, chúng ta chỉ có thể thấy những điều trong tâm hồn mình (những suy nghĩ tương đối nối tiếp nhau, cảm xúc và ý muốn). Hãy tự mình tin nhận và kêu cầu Chúa Giêsu thì bạn sẽ được cứu, và thấy được sự thật. „Bởi vì, hễ ai xin thì được, ai tìm thì gặp, ai gõ cửa thì được mở“ (Ma-thi-ơ 7:8). Amen.


Bí mật của Kinh Thánh

Bí mật của Kinh Thánh

Khi đến với Kinh Thánh, người ta thường mong được hiểu thêm gì đó về luật lệ, truyền thống, lịch sử, các nghi lễ,… Không, đó không phải là mục đích của Đức Chúa Trời khi Ngài ban Kinh Thánh cho loài người. Kinh Thánh là một quyển sách tuyệt vời, một quyển sách sống động, nó tường thuật lại những mẫu chuyện giữa con người với Đức Chúa Trời. Thật vậy, từ Cựu Ước đến Tân Ước, trải qua bao nhiêu thế hệ khác nhau, con người dù xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau, có tuổi tác, dân tộc, văn hóa khác nhau, nhưng vẫn kinh nghiệm được Đức Chúa Trời một cách sống động. Đức Chúa Trời luôn hiện ra và nói chuyện với họ. Họ không chỉ tin Chúa mà họ quen có một mối quan hệ hai chiều với Đức Chúa Trời: Chúa nghe tiếng họ và họ nghe tiếng Chúa.
[b]Thời Cựu Ước[/b]
Trong thời Cựu Ước, Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, Nô-ê, Đa-vít, Sa-lô-mon, Môi-se, Đa-ni-ên, Sa-mu-ên,… đều có mối quan hệ gần gũi với Chúa. Xin nêu một số ví dụ ở dưới.
Khi Áp-ra-ham còn đang ở thành Mê-sô-bô-ta-mi, ở giữa họ hàng của ông, thì Đức Chúa Trời vinh hiển đã hiện ra với ông. Không chỉ có Chúa Cha mà Chúa Giê-su cũng đã gặp gỡ ông và Áp-ra-ham đã nức lòng mừng rỡ khi thấy Chúa Giê-su (xem Giăng 8:56-58). Đức Chúa Trời bảo ông rời bỏ quê hương và bà con để đi đến nơi Ngài chỉ (xem Công Vụ. 7:2-8 ). Hãy tưởng tượng xem nếu bạn đang ở quê hương bạn, trong vòng họ hàng, thì một người lạ mặt bảo bạn phải rời bỏ gia đình, quê hương để đi theo người đó đến một xứ xa lạ thì bạn có đi không? Đức Chúa Trời đã phải hiện ra với Áp-ra-ham nhiều nên ông mới có thể tin tưởng và đi theo. Đặc biệt, Áp-ra-ham thân với Đức Chúa Trời đến nỗi Ngài không thể giấu ông điều Ngài định làm (Sáng Thế Ký 18:17). Nếu bạn gần gũi với Đức Chúa Trời, chắc chắn Ngài sẽ bày tỏ cho bạn biết những điều ẩn sâu trong lòng Ngài.
Vua Đa-vít cũng rất gần gũi Chúa, là một người rất hiểu lòng Đức Chúa Trời, biết Ngài muốn gì và là người đầu tiên muốn xây cho Đức Chúa Trời một đền thờ. Khi Đa-vít nói ý định này ra với Đức Chúa Trời, Ngài vui mừng đến nỗi hứa sẽ cho một hậu duệ của ông làm vua trị vì mãi mãi trên trái đất này. Người hậu duệ này chính là Chúa Giê-su Christ.
Câu chuyện của Môi-se cũng tuyệt vời. Ai cũng biết Đức Chúa Trời dùng ông để dẫn dân Chúa ra khỏi Ai Cập. Nhưng bạn có biết rằng Đức Chúa Trời rất thân với Môi-se, đã nói chuyện với Môi-se như một người nói chuyện với bạn của mình không? Chẳng phải trong Giăng 15:15, Chúa muốn xem chúng ta như là bạn của Ngài và muốn tỏ cho chúng ta biết những điều mà Ngài nghe từ Cha sao? Chúa không muốn chúng ta theo Chúa một cách mù quáng, mà muốn chúng ta thân mật với Ngài và nghe tiếng Ngài.
Chúa không chỉ hiện ra với người trưởng thành mà Ngài còn hiện ra với người nhỏ tuổi nữa. Cậu bé Sa-mu-ên được Chúa gọi ba lần trong đêm khuya, tưởng là thầy của mình gọi. Đến lần thứ tư, cậu thưa với Chúa rằng: „Xin hãy phán, kẻ tôi tớ Ngài đang nghe“ (1.Sa-mu-ên 3:10). Câu chuyện này đã vực dậy trong tôi một khao khát cháy bỏng lúc còn thơ ấu. Tôi khao khát được nghe tiếng Chúa như cậu bé Sa-mu-ên vậy. Nhiều đêm tôi nói với Chúa: „Chúa ơi, xin Chúa hãy gọi con như Ngài gọi Sa-mu-ên. Con muốn nghe được tiếng Ngài“. Qua câu chuyện Sa-mu-ên, tôi nhận ra được một điều rằng đằng sau các luật lệ, hình thức trong nhà thờ Công Giáo có ẩn chứa một điều thật: Chúa là Đấng sống và người ta có thể nghe tiếng Ngài lúc còn sống. Và tôi đã khát khao tìm kiếm điều này trên 20 năm. Khi đến được Hội Thánh đích thực của Ngài, tôi nghe được tiếng Chúa rất rõ và tôi rất hạnh phúc khi sống trong sự hiện diện của Đấng Tối Cao.
[b]Thời Tân Ước[/b]
Khi Chúa Giê-su đến thì con người có kinh nghiệm Đức Chúa Trời qua Ngài thật rõ. Lúc Ngài nói cũng là lúc Cha nói. Chúa Giê-su đã bày tỏ sự vinh hiển của Cha ra cho thế gian.
Nhưng sau khi Chúa Giê-su chịu chết và lên trời, Ngài vẫn tiếp tục hiện ra với các môn đệ và dẫn dắt họ thực hiện công việc của Ngài. Nhân vật chính trong sách Công Vụ Các Sứ Đồ chính là Thánh Linh.
Ở Công Vụ Các Sứ Đồ chương 9, khi Sau-lơ, tên cũ của Phao-lô, dẫn người đi bắt bớ Hội Thánh thì Chúa Giê-su đã hiện ra với ông, ánh sáng rực rỡ từ trời bao lấy ông làm ông ngã ngựa té xuống đất và bị mù trong ba ngày. Phao-lô nghe tiếng Chúa: „Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ, sao ngươi bắt bớ Ta?“. Sau đó Chúa lại hiện ra với A-na-nia, một môn đệ tầm thường, chỉ được nhắc đến một lần, sai ông làm cho Phao-lô sáng mắt và làm báp-tem cho Phao-lô. Lúc Chúa mới nói vậy thì A-na-nia nghi ngờ, hỏi Chúa có biết Sau-lơ đã làm hại biết bao thánh đồ tại Giê-ru-sa-lem và đang trên đường bắt bớ Hội Thánh không? Sau đó Chúa đã xác nhận lại ý Ngài cho A-na-nia rõ. Tuyệt phải không?
Chúa không chỉ hiện ra với môn đệ mà còn hiện ra với người trong dân ngoại nữa. Chúa đã hiện ra với Cọt-nây, người La Mã, nói ông cho người sang thành khác để mời Phi-e-rơ đến. Chắc hẳn Chúa phải cho Cọt-nây rõ biết địa chỉ nhà mà Phi-e-rơ đang ở tạm vì nếu không có địa chỉ thì làm sao tìm được Phi-e-rơ. Phương tiện đi lại thời đó khó khăn và lúc đó điện thoại cũng chưa được phát minh. Sau đó Chúa lại hiện ra với Phi-e-rơ, nói cho Phi-e-rơ biết rõ là Chúa sai họ đến gặp ông. Lúc đến nhà Cọt-nây thì bà con và bạn bè của Cọt-nây đã đợi sẵn. Phi-e-rơ chỉ cần chia sẻ một lát là hàng chục người ngoại được cứu và nhận được Thánh Linh. Nếu chúng ta được Chúa dẫn dắt và ban cho cánh cửa mở, chúng ta sẽ không tốn nhiều sức mà sẽ kết được nhiều quả cho Chúa. Ngoài ra Chúa còn hiện ra với Giăng, Phi-líp và với rất nhiều anh em khác nữa…
Vậy thời bây giờ thì sao? Con người không thể nghe được tiếng Chúa được nữa? Không phải như vậy đâu. Bây giờ vẫn còn có thể nghe tiếng Chúa được vì Chúa ở trong chúng ta, như Ngài đã sống trong các môn đệ sau khi Chúa lên trời. Trong Giăng 10, Chúa nói chiên Chúa sẽ nghe tiếng Chúa và quen tiếng Ngài. Các bạn trẻ, xin đừng xem những điều này là một câu nói suông, sáo rỗng mà hãy khao khát được nghe tiếng Chúa. Hãy kiên nhận xin Chúa cho bạn quen biết Ngài như Giăng 10:27 „Chiên Ta nghe tiếng Ta, Ta quen nó, và nó theo Ta“.
„Nhưng phước cho mắt các ngươi, vì thấy được; phước cho tai các ngươi, vì nghe được!“ (Ma-thi-ơ 13:16). Nguyện xin Chúa mở mắt, mở tai cho chúng ta để chúng ta không đi theo Ngài một cách mù quáng.


12 Bằng Chứng Hội Thánh Sẽ Được Cất Lên Trước Đại Nạn

12 Bằng Chứng Hội Thánh Sẽ Được Cất Lên Trước Đại Nạn
Trần Đình Tâm

Có ít nhất 12 bằng chứng cho thấy Đức Chúa Trời có chương trình sẽ đem Hội Thánh ra khỏi thế gian trước khi Ngài đoán phạt thế giới bằng cơn đại nạn. Xin trình bày tóm tắt các bằng chứng ấy sau đây:
1. Cơn đại nạn được chỉ định cho dân Do Thái.
Đa-ni-ên 9:24-27 ghi lại chương trình của Đức Chúa Trời cho dân Do Thái gồm 70 tuần lễ, trong đó có tuần lễ thứ bảy mươi, là tuần lễ cuối cùng, gồm 7 năm đại nạn. Đức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên ban truyền cho tiên tri Đa-ni-ên biết chương trình như sau:
     “Có bảy mươi tuần lễ định trên dân ngươi  thành thánh ngươi.”  (Đa-ni-ên 9:24)
Dân ngươi: Là dân Y-sơ-ra-ên; thành thánh ngươi: Chỉ về thành Giê-ru-sa-lem.
Đức Chúa Trời cho biết mục đích của Ngài: “đặng ngăn sự phạm phép, trừ tội lỗi, làm sạch sự gian ác, và đem sự công bình đời đời vào” (câu 24b). Mục đích của Đức Chúa Trời là thanh tẩy dân Do Thái. Qua cơn đại nạn, dân Do Thái sẽ ăn năn và sẽ công nhận Chúa Jesus là Đấng Mê-si. Chúng ta biết được lý do tại sao có sự thanh tẩy nầy trong câu 26: “Sau sáu mươi hai tuần lễ đó, Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi. Dân Do Thái đã không công nhận Chúa Jesus là Đấng Mê-si của họ, họ đã loại trừ Ngài bằng cách hiệp với chính quyền La-mã để đóng đinh Chúa Jesus trên thập tự giá (Giăng 19:15). (Xin đọc bài “Lời Tiên Tri Về Bảy Mươi Tuần Lễ”)
Như vậy, cơn đại nạn (tuần lễ thứ 70) được chỉ định cho dân Do Thái chứ không được chỉ định cho Hội Thánh của Đức Chúa Trời.  
2. Cơn đại nạn được chỉ định cho những người chống nghịch Chúa.
“Nầy, cơn bão của Đức Giê-hô-va, tức là cơn thạnh nộ của Ngài, đã phát ra một cơn bão lớn: nó sẽ phát ra trên đầu kẻ dữ. Sự nóng giận của Đức Giê-hô-va chẳng trở về cho đến chừng nào Ngài đã làm và đã trọn ý toan trong lòng Ngài. Trong những ngày sau rốt, các ngươi sẽ hiểu điều đó.”  (Giê-rê-mi 30:23,24)
“Bởi lòng ngươi cứng cỏi, không ăn năn, thì tự chấp chứa cho mình sự giận về ngày thạnh nộ, khi sẽ hiện ra sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời, là Đấng sẽ trả lại cho mỗi người tùy theo công việc họ làm: ai bền lòng làm lành, tìm sự vinh hiển, sực tôn trọng và sự chẳng hề chết, thì báo cho sự sống đời đời; còn ai có lòng chống trả,không vâng phục lẽ thật, mà vâng phục sự không công bình, thì báo cho họ sự giận và cơn thạnh nộ. Sự hoạn nạn khốn khó giáng cho mọi người làm ác, trước cho người Giu-đa, sau cho người Gờ-réc.”  (Rô-ma 2:5-9)
“Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời” (wrath of God) là cụm từ được dùng rất nhiều lần trong Cựu Ước và Tân Ước để chỉ về các tai họa kinh khiếp mà Đức Chúa Trời sẽ đổ xuống trên thế giới trong 7 năm cuối cùng. Chúng ta thấy những người không tin Chúa Jesus, những người chống lại chân lý mà không ăn năn kịp thời, đều phải chịu cơn đại nạn.
3. Đức Chúa Trời không chỉ định cơn đại nạn cho người tin Chúa Jesus.
“Vì Đức Chúa Trời chẳng định sẵn cho chúng ta bị cơn thạnh nộ, nhưng cho được sự giải cứu bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta.”  (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:9)
Phao-lô viết thư cho các con cái Chúa tại Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca, ông khẳng định Đức Chúa Trời không định cho “chúng ta”là những người đặt niềm tin sự chuộc tội của Chúa Jesus, phải chịu cơn đại nạn. Chúa Jesus sẽ giải cứu chúng ta ra khỏi cơn đại nạn bằng sự kiện chính Ngài sẽ giáng xuống trên không trung tiếp rước Hội Thánh ra khỏi thế gian trước khi cơn đại nạn đổ xuống. (Xin đọc bài “Sự Cất Hội Thánh Về Trời”)
4. Sự trông cậy hạnh phước của Cơ-đốc nhân.
“Vả, ân điển Đức Chúa Trời hay cứu mọi người, đã được bày tỏ ra rồi. Ân ấy dạy chúng ta chừa bỏ sự không tin kính và tình dục thế gian, phải sống ở đời nầy theo tiết độ, công bình, nhân đức, đang khi chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta, và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ.”  (Tít 2:9-11)
Chúng ta là con cái Chúa đang sống trong thế gian nầy, chúng ta đang chờ đợi sự trông cậy hạnh phước, hay chờ đợi niềm hy vọng hạnh phước (looking for that blesssd hope) đến với chúng ta, đó là giây phút chúng ta được gặp Chúa Jesus trong sự vinh hiển của Ngài, chắc chắn Ngài đến đem chúng ta ra khỏi cơn đại nạn. Nếu chúng ta phải trãi qua cơn đại nạn (theo quan điểm Hậu Nạn) thì rõ ràng không phải chúng ta đang chờ đợi niềm “hy vọng hạnh phước” như Lời Chúa phán mà đang chờ đợi … tai họa giáng xuống trên chúng ta!!
5. Khải Huyền 3:1: Hội Thánh được tránh khỏi giờ thử thách.
“Vì ngươi đã giữ lời nhịn nhục ta, ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách, là giờ sẽ đến trong khắp thế gian, đặng thử những người ở trên đất.”  (Khải Huyền 3:10)
Trên đây là lời phán của Đấng cầm chìa khóa của Đa-vít, phán với Hội Thánh Phi-la-đen-phi, là Hội Thánh không bị Chúa quở trách điều gì. Chúa hứa sẽ giữ Hội Thánh khỏi giờ thử thách (keep thee from the hour of temptation). Chúng ta cần ghi nhận vài yếu tố sau:
+ “Giờ thử thách” có ý nghĩa gì? Nếu đối chiếu với các câu Kinh Thánh khác dùng thuật ngữ đặc biệt để chỉ về cơn đại nạn như: “Ngày thạnh nộ” (Sô-phô-ni 1:15a), “Ngày hoạn nạn” (Sô-phô-ni 1:15b), “Ngày tai vạ” (Giô-ên 1:15), “Ngày tối tăm” (Giô-ên 2:2), “Ngày báo thù” (Ê-sai 34:8), “Hoạn nạn lớn” (Ma-thi-ơ 24:21) v.v… thì dễ thấy rằng “Giờ thử thách, là giờ sẽ đếntrong khắp thế gian” cũng chỉ về cơn đại nạn sẽ đến trên thế giới.
+ Một trong các Hội Thánh bị Chúa quở trách là Thi-a-ti-rơ. Chúa kêu gọi Hội Thánh nầy ăn năn, kèm theo lời cảnh cáo nghiêm khắc: “Nầy, ta quăng nó trên giường đau đớn, và phàm kẻ nào phạm tội tà dâm với nó, mà không ăn năn việc làm của nó, thì ta cũng quăng vào tai nạn lớn.” (Khải Huyền 2:22).
+ Hãy chú ý đến một Hội Thánh khác, là Hội Thánh Sạt-đe, bị Chúa quở trách là Hội Thánh chết. Chúa kêu gọi ăn năn cùng với lời cảnh báo: “Vậy hãy nhớ lại mình đã nhận và nghe đạo thể nào, thì giữ lấy, và ăn năn đi. Nếu ngươi chẳng tỉnh thức, ta sẽđến như kẻ trộm, và ngươi không biết giờ nào ta đến bắt ngươi thình lình.” (Khải Huyền 3:3)
Bây giờ chúng ta đối chiếu 3 Hội Thánh nêu trên:
     -  Hội Thánh Sạt-đe: Chúa đến như kẻ trộm bắt họ thình lình (nếu không ăn năn).
     - Hội Thánh Thi-a-ti-rơ: Bị quăng vào tai nạn lớn (nếu không ăn năn).
     - Hội Thánh Phi-la-đen-phi: Được giữ khỏi giờ thử thách (vì không có lỗi lầm).
Chúng ta sẽ phải kết luận rằng Hội Thánh Phi-la-đen-phi được tránh khỏi cơn đại nạn sẽ đến trên thế giới (nếu họ vẫn giữ trung tín). Điều nầy chứng minh rằng có sự cất Hội Thánh lên trời trước cơn đại nạn.
Mặt khác, từ ngữ “giữ khỏi” (giữ khỏi giờ thử thách) theo nguyên ngữ Hy-lạp là “tereo ek” (động từ tereo = giữ = keep + giới từ ek = khỏi = from). “keep … from” có nghĩa là giữ cho khỏi bị đưa vào một tình huống nào đó, chứ không có nghĩa là giữ cho khỏi bị tác hại khi ở trong tình huống đó. Ví dụ: “the mother keep her little girl from falling” (người mẹ giữ đứa bé gái để nó không té ngã). Chúng ta hiểu rằng người mẹ sẽ không để con bà bị té ngã, chứ không phải bà mẹ sẽ để cho con bà té ngã rồi sẽ gìn giữ con trong lúc nó té ngã.
6. Hội Thánh không xuất hiện trong Khải Huyền đoạn 6 đến 18.
Khải Huyền 1:19 ghi lại bố cục sách Khải Huyền:
     “Vậy hãy chép lấy những sự ngươi đã thấy, những việc nay hiện có và những việc sau sẽ đến.”
Khải Huyền đoạn 1 ghi lại những gì Giăng “đã thấy”; đoạn 2 và 3 ghi lại lời Chúa phán với 7 Hội Thánh, là việc “hiện có”; đoạn 4 đến 22 ghi lại những việc “sẽ đến” gồm các khải tượng mà Giăng thấy trong thời kỳ cuối cùng. Từ đoạn 1 đến 3, “Hội Thánh” (Church) được nhắc đến 17 lần. Tuy nhiên, “Hội Thánh” không xuất hiện từ đoạn 6 đến 18 là các đoạn mô tả cơn đại nạn. Hội Thánh xuất hiện trở lại ở Khải Huyền 22:16. Giải thích cho sự vắng mặt Hội Thánh trong cơn đại nạn là vì Hội Thánh đã được Chúa cất lên trước đó.
Trong Khải Huyền 13:7 nói đến Antichrist bắt bớ các thánh đồ (saint), cũng như trong 16:6; 17:6 và 18:24 nói đến các thánh đồ bị giết trong cơn đại nạn. Có thể hiểu những thánh đồ nầy là những người tin Chúa trong cơn đại nạn (người Do Thái hoặc ngoại bang), sự hiện diện của các thánh đồ nầy là kết quả của 3 đợt giảng Tin lành trong cơn đại nạn: từ 144.000 người Do Thái được đóng ấn trở nên tôi tớ của Đức Chúa Trời (7:3,4); từ hai chứng nhân (11:3) và từ một vị thiên sứ (14:6).
Ngoài ra, hãy so sánh 3 câu Kinh Thánh sau đây:
+ Ma-thi-ơ 11:5: “Ai có tai mà nghe, hãy nghe.”
+ Khải Huyền 3:22: “Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!”
+ Khải Huyền 13:9: “Ai có tai, hãy nghe!” (không nói đến Hội Thánh)
Chúng ta có nhận xét như sau: Ma-thi-ơ 11:5 ở trong giai đoạn Hội Thánh chưa thành lập; Khải Huyền 3:22 là thời kỳ Hội Thánh được thành lập trên đất; Khải Huyền 13:9 là thời kỳ 7 năm đại nạn.
7. Sự hiện diện của 24 trưởng lão trước ngôi trong Khải Huyền đoạn 4.
Đoạn 4 của Khải Huyền mô tả cảnh tượng diễn ra trên trời; đoạn 5 nói về cuộn sách có 7 ấn và chỉ có Chiên Con là có thẩm quyền mở các ấn; đoạn 6 tường thuật Chiên Con lần lượt mở 7 ấn, sự mở ấn là khởi đầu của 7 năm đại nạn diễn ra trên mặt đất.
Mở đầu đoạn 4, sứ đồ Giăng nhìn thấy một cái cửa mở ra trên trời, có tiếng phán ông “Hãy lên đây, ta sẽ cho ngươi thấy điều sau nầy phải xảy đến.” (câu 1). Sau đó, Giăng được nhìn thấy ngôi của Đức Chúa Trời chúng ta chú ý đến câu 4:
“Chung quanh ngôi lại có hai mươi bốn ngôi; trên những ngôi ấy tôi thấy hai mươi bốn trưởng lão ngồi, mặc áo trắng và đầu đội mão triều thiên vàng.”
Chúng ta hãy nhận diện 24 trưởng lão bằng cách khảo sát tất cả các yếu tố có liên quan:
a. Ngồi trên ngôi: Chúa hứa với Hội Thánh Lao-đi-xê “Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi ta, như chính ta đã thắng và ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài.” (Khải Huyền 3:21). Được ngồi trên ngôi là vinh dự Chúa hứa sẽ ban cho các con cái Chúa tại Hội Thánh Lao-đi-xê nếu họ đắc thắng cho đến thời điểm Chúa đến.
b. Mặc áo trắng: Chúa hứa với Hội Thánh Sạt-đe “Kẻ nào thắng, sẽ được mặc áo trắng như vậy.” (Khải Huyền 3:5).
c. Đội mão triều thiên vàng: Chúa hứa với Hội Thánh Si-miệc-nơ “Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống.” (Khải Huyền 2:10)
d. Con số 24: Có ý kiến cho rằng con số 24 ám chỉ 12 chi phái Y-sơ-ra-ên của Cựu Ước và 12 vị Sứ đồ của Tân Ước và kết luận rằng 24 trưởng lão đại diện cho những người được chọn của Chúa trong mọi thời đại. Cách giải thích như thế khó chấp nhận, vì theo chương trình của Đức Chúa Trời cho ngày sau cùng, có sự phân biệt rõ rệt giữa dân Do Thái và Hội Thánh. Cách giải thích tốt hơn là căn cứ vào I Sử Ký 24, vua Đa-vít phân chia các thầy tế lễ gồm 24 ban thứ, mỗi ban có một thầy tế lễ đại diện, tức là có 24 thầy tế lễ đại diện cho toàn thể. Chủ điểm ở đây là đại diện (represent).
Từ sự khảo sát trên, chúng ta có thể kết luận rằng 24 trưởng lão đại diện cho Hội Thánh của Chúa, là những người đã thắng và giữ trung tín cho đến cuối cùng và đã nhận được những điều Chúa hứa. 24 vị trưỡng lão đang ở trước ngôi Đức Chúa Trời là bằng chứng cho thấy Hội Thánh được cất lên trước đại nạn.
8. Tiệc cưới Chiên Con trong Khải Huyền 19:6-9.
“Chúng ta hãy hớn hở vui mừng, tôn vinh Ngài; vì lễ cưới Chiên Con đã tới, và vợ Ngài đã sửa soạn, đã cho người được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn (vải gai mịn tức là công việc công bình của các thánh đồ). Thiên sứ phán cùng tôi rằng: Hãy chép: Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con!”  (Khải Huyền 19:7-9)
Tiệc cưới Chiên Con là sự kiện hiệp nhất vĩnh viễn giữa Chúa Jesus và Hội Thánh, là vợ Ngài, đúng như Lời Chúa đã hứa “Ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với Ta, hầu cho Ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó”. Tiệc cưới Chiên Con diễn ra trên trời (19:1) chứ không phải trên đất. Lúc tiệc cưới diễn ra, thì bên dưới đất diễn ra cơn đại nạn. Như vậy, Hội Thánh không phải trãi qua cơn đại nạn.
9. Chúa Jesus tái lâm hiển nhiên cùng với các thánh đồ.
Khải Huyền 19:11-16 tường thuật quang cảnh Chúa Jesus tái lâm trên đất cách vinh quang vào cuối cơn đại nạn, chúng ta hãy chú ý đến đạo binh trên trời đi theo Chúa Jesus:
“Các đạo binh trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài.”    (Khải Huyền 19:14)
Các đạo binh trên trời (the armies which were in heaven) là ai? Chúng ta nhận diện được họ dễ dàng nhờ vào trang phục của họ: vải gai mịn, trắng và sạch (fine linen, white and clean). Họ chính là Hội Thánh của Đức Chúa Trời, là Tân phụ của Chúa Jesus trong tiệc cưới của Chiên Con xãy ra trước đó, trang phục của Vợ Ngài là “người được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn (fine linen, clean and white” (19:8)
Sự hiện diện của những người tin Chúa (Hội Thánh) cùng với Chúa Jesus trong ngày Chúa tái lâm chứng minh rằng Hội Thánh đã được cất lên trời trước đó. Như vậy, sự Chúa đến gồm hai giai đoạn: Chúa đến tiếp rước Hội Thánh trước cơn đại nạn, cuối 7 năm đại nạn, Chúa tái lâm hiển nhiên trên đất cùng với Hội Thánh.
Ngoài các đạo binh trên trời, chúng ta biết còn có các thiên sứ đi theo Chúa Jesus: “khi Đức Chúa Jêsus từ trời hiện đến vớicác thiên sứ của quyền phép Ngài …” (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:7), “Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống. Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương trời kia.” (Ma-thi-ơ 24:30,31)
10. Chúa đến cách thình lình và cơn đại nạn.
Có mối liên quan giữa sự đến một cách bất ngờ của Chúa Jesus và cơn đại nạn trong câu Kinh Thánh sau:
“Vì chính anh em biết rõ lắm rằng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong ban đêm vậy. Khi người ta sẽ nói rằng: Bình hòa và an ổn, thì tai họa thình lình vụt đến, như sự đau đớn xảy đến cho người đàn bà có nghén, và người ta chắc không tránh khỏi đâu.”  (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:2,3)
Với một chút suy luận, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng:
+ Tai họa (chỉ về cơn đại nạn) KHÔNG  thể xãy ra TRƯỚC sự Chúa đến cách thình lình như kẻ trộm trong ban đêm được! nhưng phải xãy ra SAU; vì nếu tai họa xãy ra trước sự Chúa đến (theo quan điểm Hậu Nạn), thì sự Chúa đến không còn là bất ngờ nữa.
+ Mặt khác, Ma-thi-ơ 24:29,30 cho chúng ta biết: “Sự tai nạn của những ngày đó vừa mới qua, thì mặt trời liền tối tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao từ trên trời sa xuống, và thế lực của các từng trời rúng động. Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con Người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống.”Trong trường hợp nầy, tai nạn xãy ra TRƯỚC khi Chúa Jesus đến, nhưng sự Chúa đến ở đây không phải như kẻ trộm trong ban đêm, tức là không mang yếu tố bất ngờ, vì xãy ra sau đại nạn, và có một loạt các biến động trong thiên nhiên báo trước: mặt trời tối tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao sa xuống…
Như vậy, chúng ta phải đi đến kết luận rằng sự Chúa Jesus đến gồm 2 chặn (hồi): 1/ Chúa đến cách thình lình. 2/ Chúa đến với những dấu hiệu báo trước. Giữa hai chặn là cơn đại nạn. Chúa đến lần đầu để đem Hội Thánh ra khỏi cơn đại nạn, sau cơn đại nạn, Chúa đến cùng với Hội Thánh để thành lập vương quốc ngàn năm trên đất.
11. Bài học từ cơn nước lụt trong thời Nô-ê và cơn mưa lửa trong thời Lót.
Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy. Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu, và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, khi Con Người đến cũng như vậy.”  (Ma-thi-ơ 24:37-39)
Việc đã xảy ra trong đời Lót cũng vậy, người ta ăn, uống, mua, bán, trồng tỉa, cất dựng; đến này Lót ra khỏi thành Sô-đôm, thì trời mưa lửa và diêm sinh, giết hết dân thành ấy. Ngày Con Người hiện ra cũng một thể nầy.”  (Lu-ca 17:28-30)
Hai câu chuyện lịch sử trên chứa đựng những bài học giống nhau liên quan đến ngày Chúa đến như sau:
a. Cơn nước lụt và cơn mưa lửa đều chỉ về sự đoán phạt của Đức Chúa Trời đối với nhân loại đắm chìm trong tội lỗi. Cũng vậy, 7 năm đại nạn được Kinh Thánh mô tả như cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời khi Ngài trút những tai họa trên thế giới (xem bằng chứng số 2).
b. Nếp sống tội lỗi, mê đắm thế gian của nhân loại sống trong thời Nô-ê và dân thành Sô-đôm xãy ra TRƯỚC sự đoán phạt của Đức Chúa Trời. Tân Ước cho chúng ta biết trong thời kỳ sau cùng, tình trạng đạo đức của nhân loại sẽ trở nên sa đọa (I Ti-mô-thê 4:1-2; II Ti-mô-thê 3:1-5; 4:3-4)
c. Nô-ê được vào tàu và Lót được ra khỏi Sô-đôm là những người có lòng kính sợ Đức Chúa Trời được Ngài giải cứu ra khỏi tai họa. Cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ không để cho Hội Thánh của Ngài, là những người đã được chuộc bằng huyết của Chúa Jesus phải cùng chung số phận với những người không tin. Ngài sẽ đến để cất Hội Thánh đi trước khi đoán phạt thế giới bằng cơn đại nạn.
12. Hội Thánh được hứa sẽ tránh khỏi tai họa sẽ đến.
“Vậy, hãy tự giữ lấy mình, e rằng vì sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng đời nầy làm cho lòng các ngươi mê mẩn chăng, và e ngày ấy đến thình lình trên các ngươi như lưới bủa; vì ngày đó sẽ đến cho mọi người ở khắp trên mặt đất cũng vậy. Vậy, hãy tỉnh thức luôn và cầu nguyện, để các ngươi được tránh khỏi các tai nạn sẽ xảy ra, và đứng trước mặt Con Người.”  (Lu-ca 21:34-36)
+ Các tai nạn: chỉ về các hoạn nạn Đức Chúa Trời sẽ trút xuống thế giới (Khải Huyền 6 đến 18)
+ Đứng trước mặt Con Người: Được trông thấy Chúa khi Ngài hiện đến và sẽ ở cùng Chúa luôn luôn.
Câu Kinh Thánh trên cũng như nhiều chổ khác trong Tân Ước, cảnh báo Cơ-đốc phải giữ mình, sống nếp sống thánh khiết theo Lời Chúa dạy và luôn tỉnh thức để được tránh khỏi các tai nạn sẽ xảy ra, và đứng trước mặt Con Người.  Vì các tai nạn chỉ về cơn đại nạn nên Chúa sẽ đến cách thình lình để đem những người thuộc về Ngài ra khỏi thế giới để tránh cơn đại nạn sẽ giáng xuống. Tuy nhiên, lời hứa trên cũng là lời cảnh báo: Nếu người tin Chúa sống buông mình theo thế gian,  tiếp tục sống trong tội lỗi mà không ăn năn thì sẽ KHÔNG tránh khỏi các tai họa sẽ sẽ xãy đến, có nghĩa là sẽ bị bỏ lại (left behind) trong cơn đại nạn.Chúa Jesus phán:“Trong đêm đó, hai người nằm chung giường, một người sẽ được rước đi, còn một bị để lại. Hai người đàn bà xay chung cối, một người được rước đi, còn một bị để lại.”  (Lu-ca 17:34-35)
Về chi tiết sự kiện Chúa đến cất Hội Thánh trước cơn đại nạn, xin đọc bài “Sự Cất Hội Thánh Lên Trời”.


Tháng 6, năm 2011.

Đền Thờ Thiên Chúa

4.4.2013
Đền Thờ Thiên Chúa
Lời của Đức Chúa Trời được ghi chép trong Thánh Kinh cho chúng ta biết, hễ ai thuộc về Chúa thì thân thể người ấy trở nên đền thờ của Thiên Chúa, và chính Đức Thánh Linh là Thiên Chúa Ngôi Ba ngự trong thân thể xác thịt của những người thuộc về Chúa: "Anh em há chẳng biết mình là đền thờ của Thiên Chúa, và Đấng Thần Linh của Đức Chúa Trời ở trong anh em sao? Vì có ai phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời sẽ phá hủy họ; vì đền thờ của Đức Chúa Trời là thánh, mà chính anh em là đền thờ." (I Cô-rinh-tô 3:16). "Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Thiên Chúa, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao" (I Cô-rinh-tô 6:19)? "Có thể nào hiệp đền thờ của Thiên Chúa lại với hình tượng tà thần? Vì chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa Hằng Sống, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; Ta sẽ làm Thiên Chúa của họ, và họ làm dân Ta" (II Cô-rinh-tô 6:16). Vì thế, người thuộc về Chúa phải: Dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh lên Đức Chúa Trời: "Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em" (Rô- ma 12:1). Lấy thân thể và tâm thần mình làm vinh hiển Đức Chúa Trời: "Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể và tâm thần mình đã thuộc về Đức Chúa Trời mà làm vinh hiển Đức Chúa Trời" (I Cô-rinh-tô 6:20). Đồng chết với Chúa trong từng giây phút để sự sống của Ngài được chiếu sáng qua thân thể của mình: "Chúng tôi thường mang sự chết của Đức Chúa Jesus trong thân thể mình, hầu cho sự sống của Đức Chúa Jesus cũng tỏ ra trong thân thể chúng tôi" (II Cô-rinh-tô 4:10). Khi thân thể chúng ta đã được làm của lễ sống và thánh dâng lên Chúa rồi thì chúng ta trọn vẹn thuộc về Chúa. Vì thế, Đức Thánh Linh đã dạy chúng ta rằng, chúng ta sống là sống cho Chúa và chết là chết cho Chúa, hoặc sống hoặc chết chúng ta đều thuộc về Chúa (Rô-ma 14:8). Nếu chúng ta vẫn còn sống cho chính mình, cho những người thân yêu của mình, hay cho một lý tưởng nào đó... thì chúng ta chưa thuộc về Chúa, và như vậy, thân thể chúng ta không phải là đền thờ của Chúa mà chính là đền thờ của thần tượng! Vì chúng ta hoàn toàn thuộc về Chúa cho nên thân thể của chúng ta phải là công cụ và phương tiện để làm vinh hiển Chúa. Chúng ta không thể có lời nói, thái độ, hành động khiến
4.4.2013: Đền Thờ Thiên Chúa hay Đền Thờ Ma Quỷ                                                             Trang 1
cho danh Chúa bị chê cười. Ngay cả việc giữ gìn vệ sinh thân thể của chúng ta, việc ăn mặc, trang sức, giải trí... cũng phải sao cho danh Chúa được vinh hiển. Chúng ta cũng không thể nào làm bất cứ một việc gì với mục đích để cho mình được sự khen ngợi của loài người. Khi loài người khen chúng ta vì chúng ta sống đúng theo Lời Chúa, chúng ta hãy dâng lời khen ấy lên Chúa, vì chính Chúa đã hành động trong chúng ta và qua chúng ta để việc lành ấy được hoàn tất. Chúng ta luôn ghi nhớ lời phán này của Chúa: "Đầy tớ vâng lịnh mà làm, thì chủ có biết ơn gì nó chăng? Các ngươi cũng vậy, khi làm xong việc truyền phải làm, thì hãy nói rằng: Chúng tôi là đầy tớ vô ích; điều chúng tôi đã làm là điều chắc phải làm" (Lu-ca 17:9-10). Đó là thái độ phục vụ Chúa cần phải có của chúng ta. Ngài là Đấng công chính và thành tín nên mọi công khó của chúng ta không phải là vô ích, mà Ngài sẽ ban thưởng cho chúng ta cách xứng đáng, tùy theo mỗi việc chúng ta làm (I Cô-rinh-tô 15:58; Khải Huyền 22:12). Khi chúng ta nhận sự khen ngợi của loài người thì chúng ta đã nhận xong phần thưởng cho việc làm đó (Ma-thi-ơ 6:16). Chắc chắn, một lời khen của loài người không thể nào sánh bằng sự khen thưởng của Chúa, cho dù việc chúng ta làm chỉ là một hành động nhỏ nhặt trong danh Chúa và làm sáng danh Chúa (Ma-thi-ơ 10:41-42)! Chúng ta phải luôn ý thức rằng: Tôi đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Đấng Christ. Hiện nay, tôi không còn sống nữa, mà Đấng Christ sống trong tôi! (Ga-la-ti 2:20). Đó là chúng ta thường mang sự chết của Đấng Christ trong thân thể mình để sự sống của Ngài cũng tỏ ra trong thân thể của chúng ta. Điều đó có nghĩa là, chúng ta không còn sống trong tội, không còn cố ý làm ra tội. Đấng Christ đã chết vì chúng ta và chúng ta đã đồng chết với Ngài (Rô- ma 6:6-11). Sự sống của Đức Chúa Jesus Christ phải được chiếu sáng và tỏ ra qua thân thể xác thịt này của chúng ta, để thế gian nhìn biết Chúa qua chúng ta. Nếu chúng ta vẫn suy nghĩ như người thế gian, nói năng như người thế gian, ham muốn như người thế gian, hành động như người thế gian, thì chúng ta thuộc về thế gian chứ chúng ta không thuộc về Chúa. Người thuộc về Chúa là người ở trong Chúa và có Lời Chúa ở trong mình, là người chỉ nghĩ đến những điều chân thật, đáng tôn, công bình, thánh sạch, đáng yêu chuộng, có tiếng tốt, có nhân đức đáng khen (Phi-líp 4:8), là người dùng tiếng mới của sự yêu thương, thánh sạch, và công chính mà nói, là người chỉ làm ra những việc lành Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho mình (Ê-phê-sô 2:10), là những việc có ích lợi, làm gương tốt, và làm tôn vinh danh Chúa (I Cô-rinh-tô 10:23-24, 31). Người như thế đó, thân thể của người ấy thật sự là đền thờ của Thiên Chúa và người ấy thật sự là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời. Lạy Cha chúng con ở trên trời. Xin Cha ban ơn và thêm sức cho chúng con để thân thể của chúng con xứng đáng là đền thờ của Ngài, được dùng để thờ phượng Ngài, tôn vinh Ngài và chiếu ra Tin Lành cứu rỗi của Ngài cho những người chưa được cứu. A-men!
Huỳnh Christian Timothy
Ghi chú: Những câu Thánh Kinh được trích dẫn là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Xin tham khảo trên mạng: http://www.tt2012.thanhkinhvietngu.net/bible